KỲ II -TỔ CHỨC THÀNH PHỐ SÀI GÒN THỜI PHÁP THUỘC
Last updated
Was this helpful?
Last updated
Was this helpful?
TỔ CHỨC THÀNH PHỐ SÀI GÒN THỜI PHÁP THUỘC
KỲ II
II) THỜI KỲ CÁC THỐNG ĐỐC DÂN SỰ (1879-1945)
Ngày 13.5.1879, thời kỳ ngự trị của các Thống đốc quân sự tại Sài Gòn cáo chung, với sự hiện diện của một viên chức dân sự là Le Myre de Vilers. Sau hòa ước Giáp Tuất 1874, những cuộc khởi nghĩa quan trọng của Trương Định, Võ Duy Dương (Thiên hộ Dương), Nguyễn Trung Trực.. đã bị dập tắt, thực dân Pháp muốn dân sự hóa người cầm đầu guồng máy chính quyền để tiến hành những cải cách sâu rộng nhằm hữu hiệu hóa việc khai thác thuộc địa.
Trước đó hơn hai năm, Tổng thống Pháp Mac Mahon ban hành một văn kiện quan trọng là “Sắc lệnh về tổ chức của thành phố Sài Gòn” (Décret concernant l’organisation municipale da la ville de Saigon), ký ngày 8.1.1877, trong đó chính phủ Pháp nêu lên mấy yếu tố căn bản sau:
* Nâng cấp thành phố Sài Gòn thành công xã (commune).
Từ “công xã” được hiểu là: ”một đơn vị lãnh thổ được quản lý bởi một Thị trưởng có sự phụ giúp của Hội đồng thành phố” (Từ điển Le petit Larousse illustré - 1993).
Hội đồng thành phố gồm 1 Thị trưởng, 2 phó Thị trưởng và 12 hội viên, gồm 8 là người Pháp hay có quốc tịch Pháp, 2 là người bản xứ , 1 là người ngoại quốc nhưng không phải là người châu Á và 1 là người ngoại quốc thuộc châu Á. Trong khi 8 hội viên kể trước được bầu cử thì 4 hội viên kể sau được Thống đốc Nam kỳ bổ nhiệm.
Tuy là một văn kiện ở cấp cao nhất trong hệ thống các văn kiện lập qui của ngành hành pháp Pháp và do chính Tổng Thống Pháp ban hành, nhưng xét về thực chất, sắc lệnh ngày 8.1.1877 cũng chỉ là một văn kiện tiếp nối các nghị định đã được các Thống đốc Nam kỳ ban hành trước đây nhằm hữu hiệu hóa việc quản lý một thành phố đang là trung tâm của chế độ thuộc địa Pháp tại Đông Dương. Cũng chính từ văn kiện này mà đã có nhiều sách báo ngộ nhận đây là văn kiện “thành lập thành phố Sài Gòn”. (Trên thực tế, trước khi đánh chiếm Sài Gòn, người Pháp đã mặc nhiên coi đây là một thành phố)
Điều đáng nói là tuy được ban hành sau, nhưng sắc lệnh trên lại không tiến bộ bằng những văn kiện có trước của các Thống đốc Nam kỳ, dẫn đến phản ứng của nhiều hội viên Hội đồng thành phố và họ đã thành lập một tiểu ban nhằm nghiên cứu và đưa ra một thỉnh nguyện thư xin sửa đổi lại nội dung sắc lệnh trên. Tiểu ban gồm 4 hội viên người phương Tây và một hội viên người bản xứ là cụ Pétrus Trương Vĩnh Ký (Tập san hội Cổ học Ấn-Hoa - BSEI - năm 1935 - trang 22). Phản ứng trên đã dẫn đến việc Tổng thống Pháp ban hành sắc lệnh ngày 29.4.1881 sửa đổi một số điều khoản của sắc lệnh năm 1877, trong đó có việc nâng số nghị viên bản xứ trong hội đồng từ 2 lên 4 người (khuôn khổ bài này không cho phép chúng tôi đi sâu hơn vào hai sắc lệnh trên).
* Thành phố Sài Gòn được phân thành các hộ
Từ thập niên 1880 đến đầu thế kỷ 20, thành phần và chức năng của Hội đồng thành phố Sài Gòn không có những thay đổi đáng kể. Tuy nhiên, trong các lãnh vực khác, có những điểm đáng chú ý sau:
* Do nghị định ngày 13.12.1880, Thống đốc Nam kỳ Le Myre de Vilers sáp nhập hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn thành Địa phương Sài Gòn-Chợ Lớn (Région de Saigon-Cholon). Nhưng 8 năm sau, do nghị định ngày 12.1 1888, Toàn quyền Đông Dương đầu tiên là Constans lại bãi bỏ tổ chức Địa phương Sài Gòn-Chợ Lớn và phục hồi hai thành phố riêng rẽ Sài Gòn và Chợ Lớn.
* Năm 1894, do nghị định ngày 12.11.1894, Toàn quyền Đông Dương sáp nhập vào thành phố Sài Gòn các làng Tân Định (vùng Tân Định ngày nay), Phú Thạnh (giới hạn bởi đường Nguyễn Thị Minh Khai và phía Tây Nam đường Cách Mạng tháng 😎, Nam Chơn (khu Dakao ngày nay), Hòa Mỹ (khu vực các đường Đinh Tiên Hoàng, Điện Biên Phủ, Mạc Đỉnh Chi) và Xuân Hòa (vùng ông Tạ, Bảy Hiền) nguyên thuộc tỉnh Gia Định. Một năm sau, nghị định ngày 15.3.1895 sáp nhập thêm vào thành phố Sài Gòn làng Tân Hội và một phần làng Khánh Hội (một phần quận 4 ngày nay).
Như vậy, đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, địa giới hành chánh thành phố Sài Gòn đã mở rộng khá nhiều: mặt Tây Bắc đã kéo dài đến khu ông Tạ, Bảy Hiền ngày nay; mặt Đông Nam đã vượt qua rạch Bến Nghé, đến vùng Khánh Hội; phía Tây Nam đã đẩy lùi Đồng Tập trận (Plaine des tombeaux) qua bên kia đường Cách Mạng tháng 8.
* Ngày 30.8.1905, Hội đồng thành phố Sài Gòn quyết nghị tái lập chức danh Hộ trưởng (chef de quartier). Chức danh này có từ thời kỳ đầu Pháp thuộc, tương tự Cai tổng ở cấp tỉnh. Năm 1865, Đỗ Hữu Phương, một cộng tác viên đắc lực của thực dân Pháp (sau được phong hàm Tổng đốc) từng là một Hộ trưởng. Chức danh này mặc nhiên bị bãi bỏ kể từ khi có nghị định ngày 4.4.1867 thành lập Ủy Ban thành phố.
Quyết nghị trên được thể chế hóa bằng nghị định ngày 26.5.1906 của Thị trưởng Sài Gòn chia thành phố Sài Gòn ra làm 6 hộ:
1. Hộ Phú Thạnh: Giới hạn cũ của xã Phú Thạnh
2. Hộ Tân Hòa: “ “ Tân Hòa
3. Hộ Tân Định: “ “ Tân Định, Phú Hòa và Nam Chơn
4. Hộ Hòa Mỹ: “ “ Hòa Mỹ nối dài
5. Hộ Sài Gòn: “ từ đường Cầu ông Lãnh nối dài đến trọn con đường Nguyễn Thị Minh Khai và Xô Viết Nghệ Tĩnh.
6. Hộ Khánh Hội: “ vùng Khánh Hội và một phần làng Tân Hội
Cũng cần nói thêm là vào thời kỳ này, vùng Dakao ngày nay có tên chính thức là Đất Hộ (Đất của Hộ) nhưng do người Pháp phiên âm sai là Dakao nên về sau, địa danh sai lạc đó trở thành phổ biến đến ngày nay.
Tuy nhiên, sự tồn tại của các hộ không kéo dài được bao lâu, chỉ hơn một năm sau, nhận thấy các hộ trưởng không làm được việc, trong phiên họp ngày 29.7.1907, Hội đồng thành phố ra quyết nghị bãi bỏ tổ chức Hộ.
Thành phố Sài Gòn từ thập niên 1930 đến năm 1945
Những năm cuối thập niên 1920, tổ chức chính quyền thành phố Sài Gòn được mở rộng với sự thành lập một số Ty Sở chuyên môn. Nghị định ngày 9.9.1928 và các nghị định tiếp theo thiết lập các ty sau:
- Ty Hành chánh: Hoạt động dưới sự giám sát của một Tổng thư ký Tòa thị chính
- Ty Kỹ thuật: phụ trách về công chánh, điện nước, xây dựng, cứu hỏa..
- Ty vệ sinh: phụ trách các công tác y tế, vệ sinh
Ngoài ra, còn có một số tổ chức đặc biệt như: Phòng từ thiện, Quỹ tiết kiệm...
Sang năm 1931, nền hành chánh thành phố Sài Gòn có một bước chuyển mới với sắc lệnh ngày 27.4.1931 của Tổng thống Pháp Gaston Doumergue, phục hồi tổ chức “Địa phương Sài Gòn-Chợ Lớn”. Sắc lệnh được chi tiết hóa bởi nghị định ngày 14.12.1931 của Toàn quyền Đông Dương P. Pasquier và có các đặc điểm sau:
* Chức năng của Địa phương Sài Gòn-Chợ Lớn là phần lớn chức năng trước đó của Hội đồng thành phố Sài Gòn và Ủy Ban thành phố Chợ Lớn.
* Viên chức đứng đầu Địa phương Sài Gòn-Chợ Lớn có chức danh là Quận trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn, làm việc với sự phụ giúp của một Hội đồng quản trị có nhiệm kỳ 3 năm.
* Điều đáng lưu ý là sự hình thành chức danh Quận trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn và Hội đồng quản trị không dẫn đến sự giải thể Hội đồng thành phố Sài Gòn và Ủy Ban thành phố Chợ Lớn. Hai tổ chức này vẫn được dành cho một số quyền hạn trước đây như: quản lý hành chánh, hộ tịch, điều tra dân số, tuyển quân, bầu cử, giáo dục, nghi lễ...Mặt khác, vào thời điểm này, cũng tồn tại hai loại ngân sách, một của Địa phương Sài Gòn Chợ Lớn, một của thành phố, với sự phân định rõ các loại thu chi cho từng loại.
Năm 1935, Thống Đốc Nam Kỳ Pagès lại ban hành nghị định ngày 18.9.1935 chia Địa phương Sài Gòn-Chợ Lớn ra làm 18 hộ do các hộ trưởng trông coi. Hộ trưởng gồm có 4 hạng 1,2,3,4, làm việc dưới quyền trực tiếp của Quận trưởng địa phương Sài Gòn-Chợ Lớn.
Cuối cùng thì cơ chế Hội đồng thành phố Sài Gòn và Ủy Ban thành phố Chợ Lớn cũng bị giải thể theo tinh thần sắc lệnh ngày 19.12.1941 của Thống chế Pétain, Quốc trưởng Pháp. Quyền hạn của Thị trưởng Sài Gòn và Chủ tịch Ủy ban thành phố Chợ Lớn được giao cho Quận trưởng Địa phương Sài Gòn-Chợ Lớn. Mô hình tổ chức này tồn tại đến tháng 8 năm 1945, sau khi nước Nhật đầu hàng quân Đồng minh trong thế chiến thứ hai.
Tổ chức thành phố Sài Gòn thời kỳ 1945-1954
Năm 1945, trong lúc trên phần lớn đất nước, nền độc lập đã được chính phủ lâm thời Việt Nam của chủ tịch Hồ Chí Minh công bố thì tại một số nơi, trong đó có Sài Gòn, một tổ chức hành chánh trong khuôn khổ thuộc địa vẫn tiếp tục tồn tại.
Năm 1947, nghị định ngày 26.9.1947 đưa ra nhiều cải cách mới: Quận trưởng Sài Gòn- Chợ Lớn trước đây được gọi là Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn; người chỉ huy các Ty sở gọi là Tổng thư ký; mỗi địa phương Sài Gòn và Chợ Lớn có một Phó Đô trưởng.
Năm 1952, theo dụ ngày 27.12.1952 của Quốc trưởng Bảo Đại, lần đầu tiên thành phố Sài Gòn được chia thành 7 quận, mỗi quận có một Hội đồng gồm 5 hội viên được bầu theo lối phổ thổng đầu phiếu với nhiệm kỳ 3 năm. Đứng đầu Hội đồng quận là một Chủ tịch và một Phó chủ tịch.
Hai năm sau, đạo dụ ngày 30.5.1954 lại đề ra những sửa đổi quan trọng khác: thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn được điều hành bởi một Đô trưởng, một Hội đồng đô thành và các Quận trưởng. Tổ chức này tồn tại đến năm 1959, trước khi có những cải tổ mới.
HẾT
Lê Nguyễn
9.9.2024